Trước đây, giáo dục nặng về dạy chữ thì giờ chuyển sang dạy làm cho người

0
237

(GDVN) – Cần thay đổi nhận thức của Phụ huynh từ việc hỏi “Con được mấy điểm?” thành “Con học được gì?”, đó chính là ước ao của VNEN.

Sáng 25/5, tại Hải Phòng, Sở GD&ĐT Hải Phòng tổ chức Hội nghị tổng kết 3 năm khai triển mô hình nhà trường mới Việt Nam theo Dự án GPE-VNEN (VNEN).

Báo cáo những thành tích đạt được và  gia sư lý cạnh tranh tránh trong công đoạn khai triển mô hình giảng đường mới VNEN, ông Nguyễn Xuân Trường – Giám đốc Sở GD&ĐT Hải Phòng cho biết, Hải Phòng là địa phương thuộc nhóm dành đầu tiên ba, năm học 2012-2013, Hải Phòng chỉ có 1 trường được tham gia Dự án mô phỏng trường học mới (VNEN). Đó là trường Tiểu học Đằng Lâm, huyện Hải An.

Với lịch trình rà soát, thẩm định thực trạng hàng năm, cùng lúc giao quyền chủ động cho từng trường học trong việc lựa chọn tham gia mô hình trường học mới VNEN, bằng những kết quả đạt được về luôn luôn có chữ tín học sinh, về canh tân bí quyết, tính đến năm 2015-2016, Hải Phòng đã có 55833 học trò tương ứng 1586 lớp của 128 trường thuộc 12/15 huyện, huyện đã tham dự dạy học theo mô phỏng trường học mới Việt Nam VNEN.

[center !important]Sáng 25/5, tại Hải Phòng, Sở GD&ĐT Hải Phòng đơn vị Hội nghị tổng kết ba năm triển khai mô hình trường học mới Việt Nam[/center !important]

Tính đến nay, ngoài các lớp học tham gia nhân rộng dạy học theo mô hình lớp học mới VNEN, các người dạy học đang dạy các lớp học truyền thống cũng đã chủ động Đánh giá, học tập và áp dụng cách dạy của thầy cô, cách tổ chức trường học theo nhóm, hướng dẫn học sinh tự học theo mô hình nhà trường mới ở 1 số tiết học.

Theo kết quả giám định có bảo đảm giáo dục toàn diện của Sở GD&ĐT Hải Phòng khi thực hiện mô hình VNEN cho thấy:

-Về năng lực: tỷ lệ học sinh Đạt ở mức 98,6%.

-Về phẩm chất: tỷ lệ học trò Đạt ở mức 98,8%.

– Đối với môn Toán: tỷ lệ học trò hoàn thành ở mức 98,8%.

– Đối với môn Tiếng Việt: tỷ lệ học sinh hoàn thành ở mức 99,3%.

Kết quả đạt được

Sau ba năm triển khai dạy học theo mô hình VNEN, giáo dục Tiểu học Hải Phòng đã đạt được 1 số kết quả nhất định:

– VNEN đã cơ bản được thầy giáo thực hiện theo đúng định hướng của Dự án, không dạy học nhất loạt mà dạy học đã hướng đến sự thuận tiện và phù hợp và tăng trưởng khả năng của từng học sinh, có biện pháp công nghệ và vật chất để canh tân bí quyết dạy, phương pháp học.

Riêng tại thị xã Hải An, niên học 2012-2013 Phòng GD&ĐT đã chọn lọc và chỉ đạo trường Tiểu học Đằng Lâm triển khai VNEN theo Công trình của Bộ GD&ĐT. đến giờ, phòng GD&ĐT quận Hải An đã chỉ đạo khai triển nhân rộng đến 7/7 trường Tiểu học trong huyện”, cô Trịnh Thị Thu Huyền- Hiệu trưởng trường Đằng Lâm cho biết.

Lãnh đạo ngành nghề giáo dục Nghệ An đi 8 trường xem thực hành VNEN

(GDVN) – Khi nghe chính những người trực tiếp thực hiện mô hình VNEN, từ giáo viên đến cán bộ chủa quản đều đề cập khác với những gì mà tôi đã đọc được.

– rất nhiều cô giáo đã nắm được cách thức dạy học, cách tổ chức giảng đường theo mô hình VNEN, linh hoạt, chủ động điều chỉnh nhịp độ học tập tùy theo đối tượng học trò của mình. hội tụ vào việc Nhìn vào, chỉ dẫn, tổ chức học tập, tương trợ, thúc đẩy thời kỳ học tập của học trò.

Minh chứng điều này, gia sư Nguyễn Thị Thu Hoài- cô giáo trường Tiểu học Nguyễn Thượng Hiền, quận Ngô Quyền cho biết:

Tôi Phân tích kỹ học trò của mình ngay từ đầu niên học như: số lượng học trò nhiều năm kinh nghiệm, học sinh năng khiếu, học trò nhanh nhẹn, bạo dạn, đề cập to…

Từ đó, tôi xây dựng mục tiêu kiện toàn Hội đồng tự quản của lớp mình dựa trên cơ sở đề xuất về Hội đồng tự quản mà mô hình VNEN đặt ra.

Tôi đưa ra những chiến lược để lớp chọn lọc quý khách trong ban Hội đồng tự quản thật chuẩn xác như: phải nhanh nhẹn, năng nổ; phải mạnh bạo, tự tin, có trách nhiệm, có kỹ năng học tập tốt;…

Sau đó, thực hiện đúng theo các bước, đúng tinh thần và tiêu chí của mô hình trong việc thành lập Hội đồng tự quản: tự nguyện, đồng đẳng và tôn trọng nhau”.

– đặc trưng mô phỏng VNEN đã tiếp cận các đánh giá học trò, coi trọng giám định thường xuyên, thẩm định công đoạn, giám định vì sự tiến bộ của học sinh, đúng với ý thức của Thông tư 30.

– học trò quen dần với cách học, bước đầu đạt hiệu quả trong việc phát huy kỹ năng kỹ sảo tự học, tương tác trong nhóm, khả năng giao thiệp, hợp tác tổ, biết lắng tai, đãi đằng quan điểm, chia sẻ với bạn bè.

Hội đồng tự quản ở 1 số lớp, trường làm tương đối tốt tầm quan trọng của mình. Việc điều chỉnh tài liệu chỉ dẫn học đã giúp học sinh chủ động, tăng năng lực làm cho việc tư nhân cũng như các năng lực tự giải quyết vấn đề.

– học trò được hình thành tăng trưởng tốt về năng lực, phẩm chất, các em có môi trường, có dịp để tự quản-tự học-tự thẩm định, các hoạt động công ty trường học giúp các em biết tự chủ-tự giác-tự tin trong học tập cũng như trong cuộc sống. quá trình học tập giúp học trò được trải nghiệm-khám phá-chiếm lĩnh-sáng tạo-phát triển.

Theo kết quả đánh giá của Phòng GD&ĐT quận Cát Hải cho thấy, học trò học theo mô phỏng VNEN được phát triển, hình thành những năng lực căn bản như: làm việc tư nhân, khiến việc tổ (nhất là khả năng đọc hiểu, giao thiệp, hợp tác, liên minh với bạn trong nhóm…).

Dạy học bàn bạc nhóm, biết là "thuốc" tốt sao ít dùng?

(GDVN) – Có phải “học trò lười, ngại trao đổi, giao thiệp kém, kỹ năng ngôn ngữ yếu…” hay nhà giáo chưa hiểu hoặc chưa biết cách tiêu dùng bí quyết trao đổi nhóm?

Đại phần nhiều học trò có tiến bộ, mạnh dạn, tự tin hơn trong học tập, giao thiệp. Nhiều học sinh có dịp mô tả phẩm chất kỹ năng kỹ sảo trong công đoạn đánh giá mà vẫn đảm bảo chừng độ 100% hoàn tất về kiến thực kỹ năng của các môn học.

– gần như các trường tham gia mô hình, không gian giảng đường, các góc học tập, thư viện nhà trường được đầu cơ cốt yếu từ nguồn kinh phí phố hội hóa, góp phần đổi thay không khí, cảnh quan sư phạm, diện mạo trường học, tạo không khí dân chủ, gần gũi, góp phần cách tân quan hệ giữa thầy với thầy, giữa thầy với trò, giữa gia đình, nhà trường với cộng đồng.

Tại bản đồ quận Cát Hải, các trường khai triển VNEN đều thực hành trang nghiêm việc trang trí không gian trường học gồm các phần cứng như: Bảng ghi 10 bước học tập, lược đồ cộng đồng, sơ đồ hội đồng tự quản, hòm thư điều em muốn đề cập, góc sinh nhật, bảng chịu khó, nhịp cầu bè bạn, thư viện nhà trường, góc san sớt, bảng thi đua, góc mặt hàng tự khiến cho của học sinh…tất cả đều được trang trí gần gũi, thân thiện, hợp lý với đặc điểm tâm sinh lý của học trò.

1 số lớp còn được trang bị đồ vật hiện đại như tivi, màn hình chiếu, máy chiếu vật thể, máy tính kết nối Internet như trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, Tiểu học Chu Văn An, Tiểu học Đoàn Đức Thái…phục vụ tốt cho việc giảng dạy và học tập.

-Nhiều bố mẹ học sinh tán đồng ủng hộ mô phỏng VNEN vì thấy được sự tiến bộ của con em mình qua việc trình bày năng lực sống như tự tin, mạnh dạn hơn trong gia đình và ngoài phố hội.

hạn chế, bất cập

không những thế, trong quá trình thực hiện còn gặp nhiều tránh như:

-Những lớp sĩ số cao, số học trò trong đội đông, việc học theo đội có những giảm thiểu khăng khăng. Với trường hợp người dạy học khả năng, sức khỏe có tránh, việc bao quát lớp, kiểm soát hầu hết học sinh trong giờ học, không bỏ rơi học trò còn vướng mắc.

-Là những năm ban sơ thực hiện nên chưa có đồ dùng căn bản cho các môn học, các tường chưa có thiết bị đồ sử dụng tự khiến cho tích lũy từ năm trước, thời kì giáo viên khiến việc trên lớp cả ngày nên việc khiến đồ sử dụng dạy học cho các môn học chưa được như ao ước.

Riêng giáo dục Tiểu học huyện Hải An cho thấy, cơ sở vật chất, trang thiết bị chuyên dụng cho dạy học còn hạn chế so với nhu cầu thực tiễn. Số học trò tăng nhanh hàng năm dẫn đến không đủ phòng học đáp ứng nhu cầu học hai buổi/ngày. Số học sinh trong lớp đông, diện tích phòng học chật nên phần nào tác động đến việc công ty hoạt động dạy và học.

Đâu phải lúc nào học trò cũng là trung tâm?

(GDVN) – Dù có thay đổi tích cực bí quyết và hình thức dạy học thế nào thì mục đích chung cuộc cũng là tăng tiến quan hệ lâu dài học tập cho học sinh.

Kinh phí giảm thiểu nên việc mua mua, tổ chức làm cho đồ tiêu dùng dạy học cho các lớp VNEN còn nhiều bất cập.

Đời sống quần chúng. # địa phương còn thấp. 1 bộ phận dân cư đời sống kinh tế còn khó khăn, thiếu sự để ý đúng mức đến điều kiện học tập của con em đã phần nào ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh và luôn luôn có chữ tín giáo dục của giảng đường.

– Việc điều chỉnh tài liệu giúp học sinh tự học tốt hơn rất nhiều, ngoài ra quỹ thời kì, kỹ năng kỹ sảo của người dạy học, các đội chuyên môn chưa thật sự giải quyết được bắt buộc nên kết quả điều chỉnh tài liệu chỉ dẫn học, chuyển đổi tài liệu hiện hành các môn Âm nhạc, Mỹ thuật, Đạo đức sang tài liệu Hoạt động chỉ dẫn học còn hạn chế.

– Hiện, do sĩ số các trường đang trong giai đoạn có chiều hướng gia tăng, nhiều trường thiếu giáo viên bởi thế các trường không có điều kiện lựa chọn thầy giáo tâm huyết, có khả năng, nghiệp vụ tốt tham gia mô hình. Những giáo viên còn giảm thiểu chưa hiểu rõ bản chất của mô phỏng, kỹ thuật dạy học theo mô hình còn phải có thời kì tiếp diễn bồi dưỡng.

– tất cả các trường, diện tích phòng học chật hẹp, các điều kiện hạ tầng thực thụ chưa giải quyết được buộc phải, không có đủ không gian cần thiết cho các em học tập và hoạt động.

– một số người dạy học tuổi cao, nhiều năm trong nghề nên việc tiếp cận, thay đổi theo hướng hiện đại bí quyết còn chậm, chưa linh hoạt trong việc xử lý cảnh huống sư phạm, chưa phát huy được tính tích cực của học trò (tiết dạy vẫn còn mang tính áp đặt).

– Đối với học trò lớp 2 đầu niên học, các em đọc, viết chưa thật tốt; năng lực quản lý của nhóm trưởng chưa quen, chưa tốt; học sinh thao tác chậm, chưa dạn dĩ, còn nhút nhát; nhiều học sinh chưa biết hài hòa trong học tập nên thầy giáo còn nặng nhọc, mất thời gian hướng dẫn, theo dõi, giúp đỡ, rà soát nhiều lượt trong từng hoạt động cho học trò để phục vụ đề nghị của chương trình.

– Còn 1 số bố mẹ các bạn học sinh học sinh lo ngại con em mình trong nhà trường tập chưa sôi nổi nên không theo được cùng mọi người trong lớp.

– cô giáo ở một số tổ chức nhân rộng mô hình ở ngoại ô, chưa có nhiều điều kiện tiếp cận với mô hình mới nên còn bỡ ngỡ, lúng túng trong công ty các hoạt động trong lớp học.

lắng nghe những thành tích cũng như cạnh tranh còn còn đó khi khai triển mô phỏng VNEN tại Hải Phòng, TS Phạm Ngọc Định – Vụ trưởng vụ giáo dục Tiểu học (Bộ GD&ĐT) nhận xét:

sớm nhất, mặc dù trong điều kiện còn gặp nhiều khó khăn nhưng chúng tôi rất vui mừng vì cảm nhận rất rõ về nhiệt huyết với giáo dục của Hải Phòng từ giám đốc Sở, Phòng GD&ĐT đến các người dạy học với ước ao đổi mới giáo dục để nâng cao uy tín ưng chuẩn việc khai triển tốt các chương trình Bàn tay nặn bột, Tiếng việt khoa học giáo dục, dạy Mỹ thuật mới của Đan Mạch…

Qua những Thống kê của Hải Phòng, tôi thấy hạnh phúc vì VNEN bước đầu đạt được thành tích như người dạy học có nhiều đổi thay về nhận thức, doanh nghiệp dạy học, giáo viên năm tầm quan trọng đơn vị, hướng dẫn học sinh còn trò thì tự tín, mạnh dạn hơn…theo đúng ý thức trước đây, giáo dục nặng về dạy chữ thời giờ chuyển sang dạy khiến người.

[center !important]TS Phạm Ngọc Định – Vụ trưởng vụ giáo dục Tiểu học (Bộ GD&ĐT) nhận xét về thành tích và tháo gỡ những khó khăn Hải Phòng còn gặp phải[/center !important]

Dạy theo VNEN là không kể tới điểm số, học trò được học tri thức, không gây áp lực vì tôi và quý vị hiểu rằng ví thử áp lực thì sẽ mất năng lực thông minh, bày tỏ quan niệm và kỹ năng tự học, tự hiểu kiến thức.

Nhiều người cho rằng, không châm điểm thì học sinh không có động lực học tập bên cạnh đó TS.Phạm Ngọc Định giải thích, giả tỉ trước đây bài rà soát học sinh được 7 điểm thì bố mẹ các em học trò chỉ ước chừng con cái học như thế chứ không phải biết kiến thức con cái ở mức độ nào.

Nay học trò không được 7 điểm nữa nhưng chính học sinh đó và bố mẹ các em học trò sẽ nắm được những thiếu xót, gặp vấn đề gì cần cải thiện để đạt kết quả cao hơn.

Hơn nữa, rõ ràng thầy cô giáo phải bằng lòng tình trạng học lực học sinh không đồng đều nhưng khi thực hành theo mô hình VNEN thì về mặt tiến độ mọi học trò đều phải hoàn tất nên những học trò yếu vững chắc được người dạy học bám sát hơn.

Về mặt vật dụng dạy học, thầy Phạm Ngọc Định cho rằng, giả sử thầy cô giáo kêu ca đi dạy cả ngày nên không có thời gian khiến thiết bị cho học trò là không đúng với chỉ tiêu của mô phỏng VNEN. Vì mọi vật dụng dạy học cần thầy cô tổ chức để kéo học sinh, bố mẹ các bạn học sinh cùng tham gia, cùng làm, để học trò lao động.

Muốn gia sư nhiệt huyết thì không còn cách nào khác ngoài cùng nhau sinh hoạt tay nghề, tôn trọng lắng tai nhau để cùng thực hiện và cần đổi thay nhận thức của Phụ huynh từ việc hỏi “Con được mấy điểm?” thành “Con học được gì?”, đó chính là ước ao của VNEN.

Rồi đến khi khen thưởng thì cần phải phản ánh đúng, cụ thể, học trò nào nhiều năm kinh nghiệm Toán thì khen nhiều năm kinh nghiệm Toán, học trò nào chuyên nghiệp Hát thì khen nhiều năm kinh nghiệm Hát, giả như có cả 2 thì khen cả 2 chứ không nên khen thưởng theo kiểu chung chung rằng: “Học sinh giỏi”.

kết thúc buổi tổng kết, TS Phạm Ngọc Định nhắn nhủ tới gia sư Hải Phòng nhắc riêng, người dạy học cả nước khái quát rằng: VNEN là xu thế nâng nâng cao quan hệ lâu dài giáo dục nên tôi và quý vị cần cẩn trọng trong từng bước đi, không cần đi nhanh mà nhanh nhất cần chuẩn bị đội ngũ và cơ sở vật chất tốt.

Nguồn: Tổng hợp trên mạng

NO COMMENTS