Thông tin hoạt động đầu tư xây dựng và sinh sản kinh dinh quý 1/2016

0
187

I. Tình hình hoạt động ĐTXD và SXKD tháng 3 và quý I năm 2016:

1. Tình hình cung ứng điện:

Trong quý I năm 2016, nhu cầu phụ tải tăng trưởng 13,08%, cao hơn 2% so với kế hoạch. Hệ thống điện quốc gia vận hành an toàn, ổn định, đáp ứng đầy đủ nhu cầu điện cho các hoạt động văn hoá từng lớp, sinh sản kinh doanh và sinh hoạt của nhân dân tại các địa phương. Đặc biệt, EVN đã đảm bảo cung ứng điện phục vụ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 12, các kỳ họp Quốc hội, Trung ương Đảng, đảm bảo sửa điện chuyên nghiệp các dịp Lễ, Tết và các hoạt động văn hóa đầu năm tại các địa phương.

Tập đoàn đã thực hành 02 đợt cấp nước từ các hồ thuỷ điện Hoà Bình, Thác Bà, Tuyên Quang phục vụ sinh sản nông nghiệp vụ Đông Xuân 2015 – 2016 ở các địa phương khu vực trung du và đồng bằng Bắc bộ. Tổng lượng nước xả là 3,03 tỷ m3 (từ hồ Hoà Bình: 2,06 tỷ m3, Thác Bà: 0,40 tỷ m3, Tuyên Quang: 0,57 tỷ m3). Trong thời gian lấy nước, mực nước sông Hồng tại Hà Nội được duy trì đúng đề nghị.

Tháng 3/2016, sản lượng điện toàn hệ thống đạt 14,92 tỷ kWh. Sản lượng cao nhất là 507,81 triệu kWh (ngày 22/03), công suất cao nhất là 24.638 MW (ngày 22/3). Lũy kế quý I năm 2016, sản lượng toàn hệ thống đạt 40,9 tỷ kWh, tăng 14,25% so với cùng kỳ năm 2015.

Tháng 3/2016, điện thương phẩm toàn Tập đoàn ước đạt 11,92 tỷ kWh. Lũy kế quý I năm 2016, điện thương phẩm ước đạt 35,11 tỷ kWh, tăng 13,08% so với cùng kỳ năm 2015. Trong đó, điện thương phẩm nội địa tăng 13,25% (miền Bắc tăng 13,04%, miền Trung tăng 11,16%, miền Nam tăng 14,16%), điện cấp cho công nghiệp – xây dựng chiếm 52,9% tăng 9,48%, điện cấp cho thương nghiệp chiếm 5,2% tăng 24,73%, điện cấp cho quản lý và tiêu dùng chiếm 34,6% tăng 14,76%; điện cấp cho nông nghiệp chiếm 2,7% tăng 63,1%; điện cấp cho thành phần khác chiếm 4,6% tăng 11,14%.

thiên hướng truyền tải trên hệ thống điện 500kV trong quý I cốt theo hướng từ miền Bắc vào miền Trung và miền Nam với sản lượng truyền tải trên giao diện Bắc – Trung 2,97 tỷ kWh, Trung – Nam 1,88 tỷ kWh. Như vậy, hệ thống 500kV Bắc – Nam đã phát huy vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng khu vực miền Trung và miền Nam, sản lượng truyền tải chiếm 13,5% nhu cầu phụ tải miền Trung và miền Nam.

2. Công tác cấp nước chống hạn của các hồ thủy điện:

Hiện tại khu vực miền Trung – Tây Nguyên và miền Nam đang phải đối mặt với tình trạng khô hạn nghiêm trọng. Lưu lượng nước về tại hồ hết các hồ thủy điện trong khu vực đều giảm thấp hơn so với giá trị làng nhàng nhiều năm, trong đó nhiều hồ có giá trị lưu lượng nước về là cực hạn trong chuỗi quan trắc nhiều năm (như: Bản Vẽ, Hủa Na, Cửa Đạt, Quảng Trị, Bình Điền, A Vương, Đăk Rinh, Ka Nak, Krông H’năng, Pleikrông, Ialy, Hàm Thuận, Đại Ninh, Đồng Nai 3, Trị An, Thác Mơ…).  Tổng lượng nước về các hồ thủy điện miền Trung – Tây Nguyên và miền Nam hiện chỉ đạt 3,29 tỷ m3, thấp hơn dự định 1,84 tỷ m3.

Trước tình hình rất khó khăn về nguồn nước bây giờ, Tập đoàn đã kết hợp chặt đẹp với Cục Điều tiết điện lực (Bộ Công Thương), Tổng cục Thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), Cục Quản lý Tài nguyên nước (Bộ Tài Nguyên và Môi trường) làm việc cụ thể với UBND các tỉnh vùng hạ du các hồ chứa thủy điện, chỉ đạo vận hành các nhà máy thủy điện đáp ứng nhu cầu nước phục vụ sinh sản nông nghiệp và sinh hoạt của quần chúng các địa phương. Tập đoàn đã chỉ đạo các đơn vị:

– phối hợp với các Sở, Ban ngành được UBND các tỉnh, thành thị trên địa bàn cắt cử làm đơn vị chủ trì, mai mối tại địa phương và các đơn vị hệ trọng, trên cơ sở lượng nước còn lại trong các hồ thủy điện và dự báo tình hình thủy văn của các cơ quan dự báo khí tượng thủy văn để xác định nhu cầu dùng nước, đồ mưu hoạch điều tiết nước các hồ chứa thủy điện cho cả mùa khô năm 2016, ăn nhập với tình hình thủy văn thực tế, tuân các Quy trình vận hành liên hồ chứa đã được Thủ tướng Chính phủ chuẩn y. Ưu tiên đầu tiên là bảo đảm nguồn nước cho sinh hoạt, dịch vụ của người dân, sau đó đến chăn nuôi gia súc, sinh sản nông nghiệp, thủy sản, đảm bảo vệ sinh môi trường, an toàn dịch bệnh và sản xuất công nghiệp, sinh sản điện. Gửi kế hoạch điều tiết nước của các hồ chứa thủy điện đã thống nhất với các địa phương cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam và trọng tâm Điều độ Hệ thống điện quốc gia để điều hành, song song gửi cho Cục Điều tiết điện lực (Bộ Công Thương) và Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường) để phối hợp giám sát, điều phối.

– kết hợp với các địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên các dụng cụ thông tin đại chúng cho dân chúng và các đơn vị trên địa bàn biết về tình hình diễn biến thủy văn khô hạn để sử dụng hiệu quả, tần tiện nguồn nước điều tiết từ các hồ thủy điện trong thời gian cao điểm mùa khô năm 2016.

3. Công tác đầu tư xây dựng:

Về nguồn điện: Các dự án dự kiến phát điện trong năm 2016 như: Thủy điện Lai Châu, Huội Quảng, Trung Sơn, Sông Bung 2; Nhiệt điện Duyên Hải 3 và các dự án trọng tâm như: Nhiệt điện Duyên Hải 3 mở mang, Vĩnh Tân 4, thái hoà 1; Thủy điện Đa Nhim mở mang, Thác Mơ mở mang: Công trường đang bám sát tiến độ đề ra, trong đó dự án Nhiệt điện Thái Bình 1 đã hoàn thành nâng bao hơi tổ máy 1, vượt trước tiến độ 01 tháng.

Về lưới điện: Trong quý I/2016, hoàn thành đóng điện 48 công trình (gồm: 9 công trình 500 – 220kV và 39 công trình 110kV), trong đó có một số công trình quan trọng để năng cao năng lực truyền tải Bắc – Nam như: Trạm biến áp 500kV Pleiku 2, đường dây 220kV Vũng Áng – Ba Đồn – Đồng Hới. Khởi công 20 công trình (gồm: 01 công trình 220kV và 19 công trình 110kV).

thực hành giá trị ĐTXD: Lũy kế quý I năm 2016, ước giá trị khối lượng thực hiện đạt 26.167 tỷ đồng, giá trị giải ngân đạt 20.014 tỷ đồng, cao hơn cùng kỳ năm 2015.

II. Một số nhiệm vụ công tác quý II và tháng 4 năm 2016:

1. sinh sản và cung ứng điện trong các tháng mùa khô quý II năm 2016:

Với mức dự kiến tăng trưởng phụ tải khoảng 13% so với cùng kỳ năm trước, trong đó tháng 4 dự định phụ tải của hệ thống điện có thể đạt tới 505 triệu kWh/ngày, tháng 5 và 6 khoảng 540 triệu kWh/ngày; công suất phụ tải lớn nhất toàn hệ thống trong các tháng mùa khô quý II có thể lên tới 28.730 MW.

Mục tiêu vận hành HTĐ là điều hành vỡ hoang hợp lý các nguồn điện để cấp điện đầy đủ và an toàn cho tới cuối mùa khô: Các hồ thuỷ điện miền Trung – Tây Nguyên và miền Nam được điều tiết, vỡ hoang tằn tiện để đáp ứng nhu cầu cung cấp nước cho hạ du. Huy động cao các nguồn điện than, khí, nhiệt điện chạy dầu. Vận hành an toàn, tin cậy hệ thống truyền tải điện liên kết các miền.

Qua tính tình cân bằng cung – cầu điện năng, HTĐ nhà nước đáp ứng đủ nhu cầu phụ tải trong quý II/2016.

2. Một số nhiệm vụ trong công tác sửa chữa điện chuyên nghiệp tháng 4/2016:

Về nguồn điện: Trong tháng 4/2016, đảm bảo tiến độ chạy thử nghiệm tổ máy 1 Nhiệt điện Duyên Hải 3; lắp đặt rotor tổ máy 2 Thủy điện Lai Châu và tổ máy 2 Thủy điện Huội Quảng.

Về lưới điện:

+ Đưa vào vận hành trong tháng 4/2016 các công trình: Trạm biến áp 500kV Phố Nối, trạm biến áp 220kV Sơn Tây, đường dây 220kV Thái Bình – Kim Động, Xekaman 1 – Pleiku 2.

+ Đôn đốc tiến độ các dự án có kế hoạch hoàn tất trong tháng 4 và các công trình còn lại của quý I, như: Nâng công suất trạm biến áp 500kV Sơn La, trạm biến áp 220kV Mỹ Xuân, nâng công suất các trạm biến áp 220kV Lào Cai, Hoà Khánh, Đà Nẵng, Dốc Sỏi…

+ Bám sát các địa phương giải quyết các vướng mắc về GPMB, hoàn tất đóng điện đường dây 500kV Duyên Hải – Mỹ Tho và các đường dây 220kV Bảo Thắng – Yên Bái, Cầu Bông – Hóc Môn – rẽ Bình Tân, Phan Thiết – Phú Mỹ 2, Huế – Hoà Khánh (mạch 2)…
Nguồn: EVN

NO COMMENTS