Những rắc rối của trường học trong bối cảnh nền kinh tế thị phần

0
126

Trong bối cảnh kinh tế thị phần, các cơ sở giáo dục, đặc thù giáo dục đại học đề nghị hoạt động trong một môi trường cạnh tranh trên mọi phương diện.

Dưới góc nhìn của các nhà kinh tế giáo dục, cơ chế thị trường dịch vụ giáo dục là một cơ chế cạnh tranh hết sức phức tạp và rắc rối (Awkward Economics) do chính những đặc điểm của nhà sản xuất giáo dục sau đây:

===>>>> Xem thêm : trung tâm gia sư ở hoàng mai

trước nhất, kế bên việc dịch vụ giáo dục – đặc thù là giáo dục buộc phải – luôn được xem là một quyền basic của dân thường, nhà sản xuất giáo dục có “tác động ngoại biên” và “tác động lan toả” (spill–over effects) dương.

ảnh hưởng này biểu hiện ở nhiều mặt, từ việc khiến cho năng suất cần lao phường hội cao hơn, tỷ lệ có việc khiến cho cao hơn, tuổi tác cao hơn, con cái mạnh khoẻ hơn, ít phụ thuộc vào trợ cấp của nhà nước hơn… cho đến tù nhân và tù đày ít hơn, đóng góp cho từ thiện nhiều hơn giả như có tay nghề giáo dục cao hơn.

Riêng về ảnh hưởng đến tỷ lệ có việc khiến cao hơn, có thể minh họa qua bảng Thống kê sau đây (Michael & Kretovics, 2004).

[center !important]Tỷ lệ (%) tham dự hàng ngũ cần lao (2001) của những người từ 25 đến 64 tuổi (Nam/Nữ)[/center !important]

tương tự, con gái ở Ý, tỷ lệ có việc khiến đã tăng từ 34% lên đến 81% giả định được giáo dục thêm từ chuyên môn dưới trung học phổ thông lên đến đại học và sau đại học. Còn các Con số tương ứng của nữ giới Thổ Nhĩ Kỳ là 22% và 71%.

===>>>> Tham khảo : gia sư văn

Chính vì “tác động ngoại biên” dương của dịch vụ giáo dục cũng như chính sách giáo dục “sòng phẳng” của cơ chế thị phần, ở hầu hết các nước trên thế giới Nhà nước luôn có tài trợ cho dịch vụ giáo dục.

Kết quả là, nhà sản xuất giáo dục, về trung bình, luôn có giá thành phải chăng hơn nhiều giá thành. Cơ chế thị phần nói đơn giản là cơ chế “thuận sắm vừa bán”, mọi quyết định đều dựa trên cơ sở vật chất giá cả. Nhưng ở đây, giá cả (giá bán) phải chăng hơn giá bán nên lại chẳng hề là hạ tầng cho việc ra quyết định.

Thứ hai, thị phần nhà sản xuất giáo dục có “thông tin bất đối xứng”. Ở đó, quý khách thường được biết rất ít về loại hàng hóa nhà sản xuất mà họ đang tậu và rất dễ lâm vào tình cảnh nhận được một quan hệ lâu dài nhà sản xuất phải chăng hơn nhiều so với luôn luôn có chữ tín mà họ kỳ vọng cũng như cái giá mà họ đã phải trả.

Ở đây cũng khó mà thỏa thuận được những thỏa thuận về việc bảo đảm có bảo đảm của nhà cung cấp. thị trường như vậy, thường chỉ là “thị trường của niềm tin” (Trust market, như thị trường giáo dục, y tế, trọng tâm coi sóc người già, trẻ em…).

Mặt khác, luôn luôn có chữ tín nhà cung cấp giáo dục và từ đó cũng là giá tiền, có một khuôn khổ biến thiên rất rộng. tầm giá hay học phí cũng chênh lệch rất lớn.

Sau đây là một ví dụ về giá tiền và học phí của các lớp trường khác nhau của đại học Mỹ năm 1995:

[center !important]giá tiền hãng và học phí ở các đại học Mỹ năm 1995 (USD)[/center !important]

Hơn nữa, theo Gordon C. Winston, khi quyết định đầu cơ vào “vốn con người” (human capital) thường người ta không biết và không có thể biết là họ đã sắm cái gì và kết quả ra sao cho đến tận ngày mai xa sau này, trong khi đó đây lại là loại đầu tư thường chỉ có một lần trong một đời người.

Và, kể riêng, giáo dục Đại học lại là khoản chi tiêu lớn thứ hai trong đời người sau bất động sản. thành ra, người ta nói, “mua một dịch vụ giáo dục Đại học giống như tìm một nhà sản xuất chữa bệnh ung thư vậy” (Yeageret al, 2001).

Thứ ba, một điểm quái dị nữa của dịch vụ giáo dục là quý vị có thể đưa “những vật liệu đầu vào” của chính mình vào công đoạn cung ứng ra dịch vụ đó” (Customer – Input Technology).

đầu tư và “chia sẻ chi phí” trong Giáo dục Đại học

(GDVN) – Hiện đã có trên 50.000 sinh viên đi du học tự đắc, và giá tiền thị trấn hội hàng năm có thể lên đến khoảng 800 triệu đô la.

Đây là việc những sinh viên học giỏi và có nhân cách tốt có thể đem lại hiệu quả rất tích cực cho những người đồng lớp (peer effects), góp phần nâng cao chất lượng và danh tiếng của giảng đường, tức là chính họ đã tham dự vào khoa học cung ứng ra nhà sản xuất giáo dục.

bởi vậy nhà trường phải “trả tiền” cho “nguyên liệu đầu vào” đó của người sinh viên, qua hình thức miễn thu học phí hay thậm chí là học bổng.

Đây là một vấn đề vô cùng phức tạp trong khi thị phần nhà sản xuất giáo dục có tính khó khăn hơn và tầm giá, giá cả… mang nhiều “tín hiệu của thị trường” hơn.

tương tự, có thể nói rằng, ngay cả dưới góc nhìn của cơ chế thị phần, thị trường nhà sản xuất giáo dục là hoàn toàn khác với thị trường của các loại hàng hoá bình thường.

Ở Việt Nam có người muốn có “khoán” trong giáo dục, muốn để hệ thống nhà cung cấp giáo dục được điều tiết cốt yếu bởi cơ chế thị trường… chừng như trên toàn cầu không có nơi nào làm cho tương tự.

Sự phổ biến các loại hình cơ sở giáo dục trong nền kinh tế thị phần

Loại hình hạ tầng giáo dục hiện nay vô cùng rộng rãi, nhất là ở giáo dục Đại học. Có thể liệt kê ra một “phổ” các loại hình như:

1) Trường Nhà Nước/công (State);

2) Trường có liên quan đến Nhà nước (State – related), Nhà nước thường phân phối khoảng 50% kinh phí, có thể gọi là “bán công”;

3) Trường có tài trợ công nhưng vận hành tư” (Publicy fund – privately run);

4) Trường tư có sự tài trợ của Nhà nước (Private State – aided);

5) Trường tư không vì lợi nhuận (Private – Non profit);

6) Trường tư nửa vì lợi nhuận (Private Semi – for profit);

7) Trường tư vì lợi nhuận (Private for profit),…

[center !important]Một phổ các loại hình cơ sở vật chất giáo dục[/center !important]

Thực trạng này như đang làm thay đổi tính nhân văn của giáo dục tổng thể, cũng như làm “lung lay cả cỗi rễ cổ kính” đề cập riêng của giáo dục Đại học. Có thể có 3 nguyên nhân chính cho sự việc này:

trước nhất, giáo dục bây giờ đã là một nền giáo dục cho gần như, đã được “đại chúng hóa”.

Giáo dục ở phổ thông thì đã được “phổ cập” hay “bắt buộc”. Giáo dục ở đại học thì số sinh viên trong tuổi teen ở độ tuổi đã tăng từ 22% năm 1975 lên 41% năm 2000 ở các nước OECD, Trung Quốc cũng đã tăng gấp đôi số sinh viên vào cuối thập kỷ 90,…

Khi đã là nền giáo dục cho phần đông thì không có một ngân sách Nhà nước nào gánh chịu nổi, nói cả những Nhà nước châu Âu phúc lợi (nơi có tiêu pha của Chính phủ thường chiếm đến trên dưới 50% GDP của quốc gia), và buộc phải có sự tham dự càng ngày càng có tỷ trọng lớn hơn của tư thục.

Ngay ở giáo dục phổ thông, Mỹ hiện có 5,8 triệu học trò ở dân lập, chiếm khoảng 11% của tổng số.

Năm nay, thực hiện cho được 5 biện pháp đột phá để giáo dục đi lên

(GDVN) – thời gian học của bậc phổ thông rút ngắn ít nhất là một năm, đại học cao đẳng tuỳ chuyên ngành có thể rút ngắn thời kì tương ứng.

Ở đại học, sinh viên tư thục chiếm tất cả ở Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Philippines, Ấn Độ, Indonesia,… có một số trường hợp chiếm đến trên dưới 80%.

tuy nhiên, với riêng giáo dục Đại học, nhiều nhà kinh tế giáo dục của Mỹ còn cho rằng: “Thiếu hạ tầng triết lý và kinh tế để bắt buộc cung cấp dịch vụ giáo dục Đại học bằng ngân sách Nhà nước” (Yeager et al, 2001).

Lập luận ở đây là:

Một là, nhà sản xuất giáo dục tuy có thể vẫn được gọi là “hàng hóa công cộng” (Public good) nhưng sự tiêu thụ chẳng hề là: “không loại trừ nhau” (non – excludable) hay “chi phí nguồn lực bổ sung của người khác để được hưởng lợi ích của nhà cung cấp này là gần bằng không”, “không cạnh tranh”, ví dụ như là hàng hóa dịch vụ cây hải đăng .

do đó, “công” ở đây chỉ là sự thỏa mãn hai tiêu chí cơ bản để được gọi là “hàng hóa công cộng” như đã nhắc ở trên, chứ không nhất mực là Nhà nước phải phân phối và cung ứng cho xã hội. “Công” ở đây khác “Nhà nước” (Public ≠ State) (Phụ, 2005).

Hai là, không có đủ bằng cớ để cho rằng, việc góp phần tăng tiến năng suất lao động phố hội đã không được đền đáp một phương pháp xứng đáng qua thị trường lao động, nghĩa là “tác động ngoại biên” không lớn.

rốt cuộc, do “dân chủ hóa” hay việc bình đẳng trong tiếp cận giáo dục Đại học cũng như đã bị lợi dụng, vì rằng phương thức cung cấp nhà sản xuất giáo dục tư nhưng có sự tài trợ của Nhà nước cho những người đủ Căn cứ trợ cấp là hoàn toàn khả thi trong thực tiễn.

Thứ hai, người ta cho rằng, việc sản xuất nhà cung cấp giáo dục theo cơ chế công ty công là kém hiệu quả và nhà nước tài trợ trực tiếp cho người học (ví dụ dạng voucher) để họ tự lựa chọn Người cung ứng dịch vụ tốt hơn là việc tài trợ gián tiếp qua Người phân phối dịch vụ (nghĩa là cấp kinh phí cho cơ sở vật chất giáo dục) và buộc họ phải đến đó để tận hưởng nhà cung cấp giáo dục.

Chính vì vậy mà hiện tại có loại cơ sở giáo dục “tài trợ công nhưng vận hành tư” như IUB của Đức, SMU của Singapore,…

vừa mới đây, Chương trình giám định học trò quốc tế (PISA) cũng đã có một khảo sát “Thành tích về toán và khoa học” của lứa học sinh 15 tuổi ở những loại hình trường khác nhau.

Kết quả, quan hệ về thành tích với vận hành và tài trợ như sau:

(a) chẳng hạn tài trợ tư – vận hành công đặt ở ngưỡng thành tích là “không” (0,0 điểm)

(b) Tài trợ công – vận hành công có thành thành tích là 36,6;

(c) Tài trợ tư – vận hành tư có thành tích là 36,7

(d) Tài trợ công – vận hành tư có thành tích là 74,6.

[center !important]Quan hệ về thành tích với vận hành và tài trợ[/center !important]

Tính kém hiệu quả còn do một hiện tượng phổ biến mà các nhà kinh tế học gọi là “Ràng buộc ngân sách mềm” (Soft budget constraints) ở các cơ sở vật chất công do nhà nước sản xuất vốn đầu tư.

Thứ ba, là do khuynh hướng toàn cầu hoá và những ảnh hưởng của trường phái kinh tế “tân tự do” (neo–liberal).

Trong bối cảnh đó, các cơ sở vật chất giáo dục, đặc thù là các cơ sở vật chất giáo dục đại học, đề nghị hoạt động trong một môi trường khó khăn trên mọi phương diện, khó khăn trong nước và cả cạnh tranh với giáo dục của nước ngoài.

Ở Việt Nam, hiện nay cung trong giáo dục Đại học mới bằng khoảng 35–40% của cầu. Nhưng có lẽ từ sau năm 2015, câu chuyện “tạo ta sự khác biệt” để có khả năng cạnh tranh cao sẽ phát triển thành hết sức gay cấn (Phụ, 2008).

 Nguồn: Tổng hợp trên mạng

NO COMMENTS