Tổ chức hệ thống giáo dục sau trung học như thế nào?

0
395

Khi nói về phân tầng giáo dục đại học có thể nêu hai tỉ dụ rõ nhất của Mỹ và của Trung Quốc. 

Trường hợp Mỹ: Từ 1970 quỹ Carnegie ở Mỹ có phân loại các cơ sở giáo dục đại học dựa trên các số liệu thực tiễn thu thập được, phục vụ cho các chương trình nghiên cứu và phân tích chính sách của họ. 

Đợt phân loại mới nhất lần thứ 7 diễn ra năm 2010. Theo kiểu phân  loại cơ bản của Carnegie, giáo dục sau trung học được chia làm 5 loại lớn: 
======>>>> Bài hay: gia sư giỏi môn hóa
Thứ nhất, các cơ sở giáo dục đại học cấp bằng tấn sĩ (chia 4 nhóm con); 

Thứ hai, các cơ sở giáo dục đại học tổng hợp (chia 2 nhóm con); 

Thứ ba, các cơ sở giáo dục đại học nhân văn tự do [liberal art]  (chia 2 nhóm con); 

Thứ bốn, mọi cơ sở giáo dục đại học 2 năm (cấp bằng cao nhất là bằng “đại học đại cương” [associate degree] cho chương trình Giáo dục đại cương 2 năm đầu ĐH) ; 

Thứ năm, các cơ sở giáo dục đại học chuyên nghiệp (The Carnegie Classification, 2010 (2)).

Ngoài phân loại Carnegie mà nhiều người biết còn có các kiểu phân loại khác, chẳng hạn Hội Giáo sư Đại học Mỹ (AAUP) khi nghiên cứu về lương giáo chức đã  phân loại các cơ sở giáo dục đại học như sau: 

Thứ nhất, loại I có đào tạo tấn sĩ; 

Thứ hai, loại IIA có đào tạo thạc sĩ; 

Thứ ba, loại IIB có đào tạo cử nhân; 

Thứ bốn,  loại III đại học hai năm được xếp hạng học thuật; 

Thứ năm, loại IV đại học hai năm không được xếp nạng học thuật (Alexander McCormick & Chun Mei Zhao, 2005).     





[center !important]Ảnh minh họa Xuân Trung[/center !important]



Việc phân tầng giáo dục đại học để dùng các chính sách của Nhà nước tác động nhằm tạo nên một hệ thống giáo dục đại học hợp nhất, đồng đẳng, chất lượng và hiệu quả (unity, equity, quality & efficiency) nức danh nhất Mỹ và thế giới là phân tầng của Bang California, Mỹ. 

Phân tầng được khai triển đầu tiên cho hệ thống giáo dục đại học công lập của California vào năm 1960, điều chỉnh và mở mang ra hệ thống giáo dục đại học tư và đào tạo nghề vào năm 1987 (Commission for Review of the Master Plan for Higher Education, 1997(4)) và nối hoàn chỉnh vào năm 2009. 

Vào thập niên 1980 các chuyên gia giáo dục đại học OECD nghiên cứu hệ thống giáo dục đại học của California, thấy rõ tính ưu việt của nó, đã khuyến cáo các nước OECD nghiên cứu học tập mô hình này ứng dụng cho giáo dục đại học thế kỷ 21 và gọi đó là “Giấc mơ California” (California dream) (Sheldon Rothblatt, 1992 (5)). 

Đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập sự phân tầng tương đối ổn định từ năm 1960 cho đến tận đầu thế kỷ 21, có thể tóm tắt như sau:  

Thứ nhất, tầng trên cùng gồm 10 viện đại học (university) đẳng cấp cao nhất, mỗi cơ sở được đặt tên thống nhất là University of California, X, với X là tên địa điểm đặt trường (tỉ dụ UC, Berkeley). 

Tầng này tuyển tốp 1/8 (12,5%) giỏi nhất của số học sinh tốt nghiệp phổ biến trung học.

Thứ hai, tầng giữa gồm 23 viện đại học tầm trung, mỗi cơ sở được đặt tên hợp nhất là California State University, Y, với Y là tên địa điểm đặt trường (thí dụ CSU, Fullerton). 

Tầng này tuyển nhóm 1/3 (33,3%) số học sinh tốt nghiệp phổ biến trung học kế tiếp, có quyền đào tạo đến bằng thạc sĩ (muốn đào tạo tấn sĩ phải phối hợp với các UC). 

Thứ ba, tầng dưới bao gồm khoảng 110 trường Cao đẳng cộng đồng [Community College] của California, nhận bất cứ học sinh nào muốn được học đại học. 

Hệ thống Cao đẳng cộng đồng có các chương trình đào tạo nghề từ đơn giản (vài tháng) đến phức tạp (vài năm) và chương trình 2 năm đầu đại học, được gọi là chương trình chuyển tiếp (transfer programs), cấp bằng đại học đại cương (associate degree). 

Với bằng đại học đại cương, tùy theo kết quả học tập, sinh viên có thể chuyển lên học hai tầng Đại học UC và CSU và các đại học 4 năm khác ở Mỹ. 
Nguồn: Tổng hợp tin giáo dục

NO COMMENTS