cách tân basic và toàn diện giáo dục có mang tính quy luật?

0
266

cách tân basic và toàn diện giáo dục có mang tính quy luật?

Trong quá trình thực hành, theo quy luật, sự đổi thay về lượng chỉ dẫn tới  gia sư lý đổi thay về chất với điều kiện lượng phải được tích lũy tới dừng điểm nút.

Chủ trương canh tân basic và toàn diện giáo dục liệu có phải là một vấn đề mang tính quy luật, muốn hiểu biết vấn đề này trước hết hãy Phân tích về khái niệm “quy luật”.

Về mặt kỹ thuật, hai chữ quy luật đã xuất hiện trong sách giáo khoa Giáo dục công dân 10, Nhà xuất bản giáo dục năm 2006.

Cụ thể, tại trang 26 chữ "quy luật" được tiêu dùng để chỉ tới một hiện tượng tạo ra mâu thuẫn, mà từ đó thúc đẩy sự vững mạnh. dù vậy, Sách giáo khoa Giáo dục công dân lại không huấn luyện hay khái niệm rõ thế nào là quy tắc mà chỉ nêu vấn đề, hiện tượng và gọi tên là quy tắc.

Để Tìm hiểu về vấn đề này, tôi và quý khách cùng điểm qua những khái niệm, định nghĩa tiêu dùng để xác định nguyên tắc.

Cụ thể, tự điển Việt Nam (Viện tiếng nói học, 2004) định nghĩa:

"quy luật là mối địa chỉ thực chất, ổn định được lặp đi lặp lại giữa các hiện tượng trong bỗng nhiên và phố hội".

mở mang vấn đề hơn, tự điển Bách khoa Việt Nam (Nhà xuất bản từ điển bách khoa, 2003) định nghĩa:

"quy tắc là mối địa chỉ khách quan, thế tất, bản tính, rộng rãi được lặp đi lặp lại giữa các hiện tượng".

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và giải thích Phùng Xuân Nhạ (Ảnh: giaoduc.net.vn).

Theo đó, có nhiều loại quy luật như quy luật riêng, quy luật chung, quy tắc động lực, nguyên tắc Thống kê, nguyên tắc tự của nhiên, quy tắc của thị trấn hội…

Từ đó, quy tắc được xác định cụ thể trên cơ sở vật chất của phép biện chứng duy vật, của chủ nghĩa Mác-Lênin mà Sách giáo khoa Giáo dục công dân đã tiếp cận thứ nhất.

Phép biện chứng duy vật là một phòng ban lý luận cơ bản hợp thành thế giới quan và cách thức luận triết học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, là khoa học về mối liên hệ đa dạng và cũng là công nghệ về những nguyên tắc phổ biến của sự chuyển di và sự phát triển của ngẫu nhiên, xã hội loài người và tư duy.

Trong chủ nghĩa Mác-Lênin, khái niệm biện chứng sử dụng để chỉ mối địa chỉ, tương tác, chuyển hóa và chuyển động vững mạnh theo quy luật của các sự vật, hiện tượng, thời kỳ trong tình cờ, xã hội và tư duy.

Phép biện chứng là thuyết giáo nghiên cứu, đại quát biện chứng của toàn cầu thành hệ thống các nguyên lý, quy tắc khoa học nhằm vun đắp hệ thống các quy luật, cách thức luận của nhận thức và thực tiễn.

Với ý tức thị khoa học của sự liên hệ phổ biến, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin được xác lập trên nền tảng của thế giới quan kỹ thuật.

Trong phép biện chứng duy vật có sự thống nhất giữa nội dung thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật, bởi thế không dừng ở sự huấn luyện toàn cầu mà còn là dụng cụ để nhận thức thế giới và cải tạo thế giới.

Như thế là rất không thể lãng quên để ta khiến cho rõ định nghĩa quy tắc.

Theo ý kiến của chủ nghĩa Mác-Lênin, quy luật là những mối liên hệ khách quan, thực chất, cố nhiên, phổ biến và lặp lại giữa các mặt, các yếu tố, các tính chất bên trong mỗi sự vật hiện tượng hay giữa các sự vật hiện tượng với nhau.(1)

Ở đây, với tư cách là một khoa học về mối liên hệ đa dạng và sự lớn mạnh, phép biện chứng duy vật nghiên cứu những quy luật chung nhất, tác động trong gần như các lĩnh vực trùng hợp, phường hội và tư duy của con người.

Đây có phải là triết lý cho Giáo dục Việt Nam?

Trong các quy tắc đó, nguyên tắc của phố hội chiếm vị trí và sự cần thiết quan trọng; các quy luật của xã hội và hoạt động có ý thức của con người là không tách rời nhau.

Hoạt động của con người phải khởi hành từ quy luật khách quan của xã hội, còn quy luật của xã hội chỉ được biểu hiện ra phê chuẩn hoạt động của con người.

quy tắc của xã hội vừa là tiền đề, vừa là kết quả hoạt động của con người.

Con người vừa thông minh ra lịch sử của mình trong tư duy, lại vừa thể hiện nó trong đời sống hiện thực nên con người vừa là "tác giả" lại vừa là "diễn viên" của vở kịch lịch sử nhân loại của mình.

Theo đó, có ba quy tắc phổ biến được nghiên cứu, đó là: quy luật chuyển hóa từ những sự đổi thay về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại; quy tắc hợp lực và đấu tranh giữa các mặt đối lập; và quy tắc phủ định của phủ định.

sớm nhất, quy luật chuyển hóa từ những sự đổi thay về lượng thành những thay đổi về chất và trái lại.

Theo lý luận của kỹ thuật Mác-Lênin, đây là nguyên tắc căn bản, rộng rãi về phương thức chung của các thời kỳ di chuyển, lớn mạnh trong tự dưng, phường hội và tư duy. Để hiểu rõ nội dung của quy luật này, đầu tiên ta Đánh giá định nghĩa lượng, chất và mối quan hệ biện chứng giữa chúng.

khái niệm chất sử dụng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là sự hợp nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành nó.

khái niệm chất cho ta sự phân biệt giữa các sự vật, hiện tượng với nhau. Mỗi sự vật hiện tượng đều có những tính chất căn bản và không căn bản. Chỉ những thuộc tính cơ bản mới hợp thành chất của sự vật, hiện tượng.

Khi những tính chất căn bản đổi thay thì chất của sự vật và hiện tượng cũng thay đổi.

Chất của sự vật, hiện tượng chẳng những được xác định bởi chất của các yếu tố cấu thành, mà còn bởi cấu trúc và phương thức kết liên giữa chúng, thông qua các mối liên hệ cụ thể. Ví dụ, một lớp học trò chỉ gồm các học trò nhiều năm kinh nghiệm, thì chất của giảng đường đó là nhiều năm kinh nghiệm.

định nghĩa lượng dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng về các phương diện: số lượng, nhân tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại, tốc độ, tiết điệu của các công đoạn chuyển di, vững mạnh của sự vật, hiện tượng.

khái niệm chất cũng có thể nói lên những tính chất cấu thành nó như: độ lớn (to-nhỏ), quy mô (lớn-bé), trình độ (cao-thấp), tốc độ (nhanh-chậm), màu sắc (đậm-nhạt)…

định nghĩa lượng cho thấy một sự vật hiện tượng có thể còn đó nhiều loại lượng khác nhau, được xác định bằng các phương thức khác nhau tiện cả đôi đường với từng loại lượng cụ thể của sự vật hiện tượng đó.

Thí dụ, trong một lớp học sinh có bao nhiêu học sinh nhiều năm kinh nghiệm, bao lăm học trò hơi và bao nhiêu học trung bình… cho ta biết mặt lượng của sự vật.

Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng là tiện thể thống nhất giữa hai mặt chất và lượng.

Hai mặt đó không tách rời nhau mà ảnh hưởng lẫn nhau một phương pháp biện chứng. Sự đổi thay về lượng tất yếu sẽ dẫn đến sự chuyển hóa về chất của sự vật, hiện tượng. không những thế, không phải sự đổi thay về lượng bất kỳ nào cũng dẫn đến sự thay đổi về chất.

Thí dụ, khi tăng sĩ số của một lớp học trò có thể sẽ dẫn đến làm giảm luôn luôn có chữ tín học của lớp học trò đó, do lớp học đông gây tác động đến khả năng tiếp thu bài, vì thế giảm về chất.

Ở đây, trong một ngừng một mực, sự thay đổi về lượng chưa dẫn tới sư đổi thay về chất. giới hạn mà sự đổi thay về lượng chưa làm cho chất đổi thay gọi là độ.

Theo đó, định nghĩa độ chỉ tính quy định, mối địa chỉ hợp lực giữa chất và lượng, là khoảng ngừng mà trong đó sự đổi thay về lượng chưa làm cho đổi thay căn bản tính của sự vật, hiện tượng.

thành ra, trong giới của độ, sự vật vẫn còn là nó, chưa chuyển hóa thành sự vật hiện tượng khác.

Sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng thường bắt đầu từ sự đổi thay về lượng.

Khi lượng đổi thay đến một dừng một mực sẽ thế tất những sự thay đổi về chất; giới hạn đó được gọi là điểm nút.

Ở đây, sự đổi thay về lượng khi đạt tới điểm nút, với những điều kiện khăng khăng thế tất sẽ dẫn đến sự xây dựng thương hiệu của chất mới. thời kỳ này được gọi là bước nhảy đầm trong cả tiến trình di chuyển, vững mạnh của sự vật, hiện tượng.

Bước khiêu vũ là sự chuyển hóa tất yếu trong thời kỳ vững mạnh của sự vật, hiện tượng. Sự đổi thay về chất diễn ra với đa dạng bước dancing khác nhau, được quyết định bởi tranh chấp, thuộc tính và điều kiện của mỗi sự vật, hiện tượng. Đó có thể là bước dancing nhanh, chậm, lớn, nhỏ, cục bộ và phần đông, tự phát hay tự giác…

Bước nhảy là sự kết thúc một công đoạn chuyển động, phát triển; cùng lúc, đó cũng là điểm khởi đầu của giai đoạn vững mạnh mới, là sự gián đoạn trong giai đoạn đi lại, vững mạnh liên tiếp của sự vật hiện tượng.

Trong toàn cầu luôn luôn diễn ra thời kỳ biến đổi tuần tự về lượng dẫn đến bước khiêu vũ về chất, tạo ra một đường nút bất tận, bộc lộ bí quyết chuyển di và phát triển của sự vật, hiện tượng từ thấp đến cao.

Khi chất mới ra đời lại có sự tác động trở lại lượng của sự vật, hiện tượng. Chất mới tác động đến lượng của sự vật, hiện tượng trên nhiều bình diện như: khiến đổi thay kết cấu, quy mô, chuyên môn, nhịp điệu của sự di chuyển và vững mạnh của sự vật, hiện tượng.

Vấn đề ở đây là sự vận động, lớn mạnh của sự vật, hiện tượng là mang tính quy tắc.

Cụ thể, theo quy tắc này, phương thức chung của các công đoạn vận dộng, tăng trưởng là: sự thay dổi về chất của sự vật, hiện tượng có cơ sở thế tất từ những sự thay đổi về lượng của sự vật, hiện tượng, và trái lại những sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng lại tạo ra những biến thay đổi tích cực về lượng của sự vật, hiện tượng trên các bình diện khác nhau.

Đó là mối địa chỉ tất yếu, khách quan, nhiều hình thức, lặp đi lặp lại trong mọi giai đoạn đi lại, vững mạnh của sự vật, hiện tượng thuộc mọi lĩnh vực thiên nhiên, thị trấn hội và tư duy.

Từ nội dung của quy luật chuyển hóa từ những sự đổi thay về lượng thành những thay đổi về chất và trái lại ta có thể rút ra những ý nghĩa về mặt phương pháp luận trong nhận thức và thực tiễn như sau:

+ Vì bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có bình diện chất và lượng còn đó trong tính

quy định lẫn nhau, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau, thành ra, trong nhận thức và thực tiễn khi đánh giá cần phải coi trọng cả hai loại mục tiêu về phương diện chất và lượng, tạo nên sự nhận thức hoàn toàn và toàn diện về sự vật và hiện tượng, có ý nghĩa trong quá trình chuyển động và vững mạnh.

+ Vì những sự đổi thay về lượng của sự vật, hiện tượng có khả năng tất yếu chuyển hóa hành những thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng và trái lại, cho nên, trong hoạt động nhận thức và thực tế, tùy theo mục đích cụ thể, cần từng bước tích lũy về lượng để có thể làm cho đổi thay về chất; song song, có thể phát huy tác động của chất mới theo hướng làm cho đổi thay về lượng của sự vật, hiện tượng.
+ Vì những sự đổi thay về lượng chỉ có thể dẫn tới những sự đổi thay về chất của sự vật, hiện tượng với điều kiện lượng phải được tích lũy tới dừng điểm nút, bởi vậy, trong công việc thực tế cần phải giải quyết tư tưởng nôn nóng tả khuynh; mặt khác, theo tính thế tất quy luật thì khi lượng đã tích lũy đến giới hạn điểm nút sẽ tất yếu có khả năng diễn ra bước dancing về chất của sự vật hiện tượng.

vì thế, cũng cần giải quyết tư tưởng hủ lậu hữu khuynh trong công tác thực tế. Tả khuynh chính là hành động bất chấp quy tắc, chủ quan, duy ý chí, không tích lũy về lượng mà chỉ chú trọng thực hiện những bước khiêu vũ liên tiếp về chất.

Hữu khuynh là sự mô tả tư tưởng không chịu cách tân, bê trệ, không dám thực hiện bước dancing, dù rằng lượng đã tích lũy tới điểm nút và quan điểm phát triển chỉ thuần tuý là sự tiến hóa về lượng.

+ Vì bước nhảy đầm của sự vật, hiện tượng là cực kỳ nhiều hình thức, phong phú, cho nên, trong nhận thức và thực tế không thể lãng quên sự áp dụng cởi mở các hình thức của bước dancing cho thuận tiện và phù hợp với từng điều kiện, từng lĩnh vực cụ thể.

đặc biệt, trong đời sống xã hội, quá trình lớn mạnh không chỉ phụ thuộc vào các điều kiện khách quan, mà còn phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của con người, do vậy, cần phải nâng cao tính tích cực, chủ động của chủ thể để thúc đẩy công đoạn chuyển hóa từ lượng đến chất một phương pháp hiệu quả nhất.

Thứ hai, nguyên tắc thống nhất và chống chọi giữa các mặt đối lập.

quy tắc này được xem là "hạt nhân" của phép biện chứng (2). Đó là quy tắc về nguyên cớ, động lực căn bản, đa dạng của mọi thời kỳ chuyển di và phát triển.

Theo đó, nguyên cớ và động lực basic, phổ biến của mọi quá trình vận động, tăng trưởng chính là tranh chấp khách quan, vốn có của sự vật, hiện tượng.

nhân tố tạo nên tranh chấp là các mặt đối chọi.

Theo đó, mỗi sự vật, hiện tượng cũng như giữa các sự vật, hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác trong thế giới có muôn ngàn những mặt đối nghịch nhau.

khái niệm mặt đối chọi trong phép biện chứng duy vật ở đây được hiểu là dùng để chỉ những mặt, những tính chất, những xu hướng đi lại trái ngược nhau nhưng cùng lúc lại là điều kiện, tiền đề để tồn tại của nhau.

Ví dụ, điện tích âm và điện dương trong một nguyên tử, đồng hóa và dị hóa trong một thân thể sống, giai cấp vô sản và giai cấp tư sản trong chủ nghĩa tư bản…

Như thế, bản chất của quy luật được tạo nên từ mâu thuẫn, vì thế ta cần hiểu khái tranh chấp trong phép duy vật biện chứng là thế nào.

Trong phép biện chứng, định nghĩa mâu thuẫn sử dụng để chỉ mối liên hệ hợp lực, tranh đấu và chuyển hóa giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.

tranh chấp có tính khách quan và tính rộng rãi trong các sự vật và hiện tượng.

mâu thuẫn còn có tính rộng rãi và phong phú được diễn tả ở chỗ: mỗi sự vật, hiện tượng, thời kỳ đều có thể bao hàm nhiều loại mâu thuẫn khác nhau, diễn tả khác nhau trong những điều kiện lịch sử, cụ thể khác nhau và chúng giữ vị trí, sự cần thiết khác nhau đối với sự tồn tại, đi lại và lớn mạnh của sự vật, hiện tượng.

Hay trong các ngành nghề khác nhau cũng tồn tại những tranh chấp với những tính chất khác nhau và đã tạo nên tính phong phú trong sự trình bày của mâu thuẫn. Đó có thể là mâu thuẫn bên trong và bên ngoài, cơ bản và không cơ bản, cốt yếu và thứ yếu…

Theo dẫn luận đó, trong một mâu thuẫn, các mặt đối chọi vừa hợp nhất với nhau, vừa chiến đấu với nhau.

Ở đây, khái niệm thống nhất của các mặt đối chọi dùng để chỉ sự liên hệ, ràng buộc, không tách rời nhau, quy định lẫn nhau, mặt này lấy mặt kia khiến tiền đề để còn đó. Sự thống nhất giữa các mặt đối chọi ở đây cũng bao hàm sự đồng nhất của chỉnh thể đó.

Ví dụ, trong sự mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản luôn có sự ký kết cần lao với nhau nhưng giai cấp tư sản có thể đưa ra những quy định áp đặt đối với giai cấp vô sản và lấy đó làm cho tiền đề để tồn tại, và cả hai đều hiệp lực trong một chỉnh thể là hình thái kinh tế thị trấn hội tư bản chủ nghĩa…

định nghĩa đương đầu của các các mặt đối nghịch dùng để chỉ xu thế ảnh hưởng tương hỗ, bài trừ, phủ định nhau của các mặt đối lập.

Theo đó, hình thức chiến đấu của các mặt đối chọi rất phong phú, rộng rãi, tùy thuộc vào tính chất, mối quan hệ và điều kiện cụ thể của sự vật, hiện tượng, khi đó, công đoạn hợp nhất và quyết đấu của các mặt đối lập thế tất dẫn đến sự chuyển hóa giữa chúng.

Sự chuyển hóa này diễn ra rất phong phú, đa dạng và tùy thuộc vào thuộc tính của các mặt đối lập cũng như tùy thuộc vào những điều kiện kịch sự, cụ thể.

Trong sự hiệp lực và chống chọi giữa các mặt đối nghịch thì sự chiến đấu là tuyệt đối, còn sự hợp lực là hơi, có điều kiện và tạm thời thời; ở đây, trong sự hợp nhất đã có sự đấu tranh, đấu tranh trong tính hợp nhất.

Sự ảnh hưởng qua lại dẫn đến chuyển hóa giữa các mặt đối chọi là một giai đoạn.

Lúc mới xuất hiện, tranh chấp được mô tả ở sự dị biệt và vững mạnh nhanh thành hai mặt đối nghịch. Khi mặt đối lập của tranh chấp xung đột với nhau gay gắt và khi điều kiện đã chín muồi thì chúng sẽ chuyển hóa lẫn nhau, tranh chấp được khắc phục.

Nghiên cứu đáng chú ý của thầy Trần Trí Dũng về mô hình trường học mới – VNEN

Khi đó, tranh chấp cũ mất đi, tranh chấp mới được hình thành và công đoạn ảnh hưởng, chuyển hóa giữa hai mặt đối lập lại tiếp tục, khiến cho sự vật, hiện tượng xoành xoạch đi lại và vững mạnh.

thành ra, sự liên hệ, tác động và chuyển hóa giữa các mặt đối nghịch là duyên do, là động lực của sự chuyển di và lớn mạnh trong toàn cầu.

Từ nội dung của quy luật thống nhất và chiến đấu giữa các mặt đối nghịch, ta có thể rút ra những ý nghĩa trong nhận thức và thực tại.

Cụ thể: vì mâu thuẫn có tính khách quan, tính phổ biến và là khởi thủy, động lực của sự chuyển động, tăng trưởng nên trong nhận thức và thức tiễn cần phải tôn trọng tranh chấp, phát hiện tranh chấp, cần có sự Phân tích gần như các mặt đối chọi để nắm được bản tính, duyên do, xu thế của sự chuyển động và lớn mạnh.

Vì tranh chấp có tính rộng rãi, phong phú, thành ra trong việc nhận thức và khắc phục tranh chấp không thể bỏ qua ý kiến lịch sử mang tính cụ thể, nghĩa là biết Nhận định cụ thể từng loại tranh chấp và từ đó có cách giải quyết phù hợp.

Trong thời kỳ hoạt động nhận và thức và thực tại, cần phân biệt đúng sự cần thiết, vị trí của các loại tranh chấp trong từng tình cảnh, điều kiện nhất định, phân biệt những đặc điểm của tranh chấp đó để tậu ra bí quyết giải quyết từng loại tranh chấp một phương pháp đúng đắn nhất.

Thứ ba, nguyên tắc phủ định của phủ định.

Đây là nguyên tắc về thiên hướng căn bản, đa dạng của mọi chuyển động và phát triển diễn ra trong các ngành nghề bất chợt, phố hội và tư duy của sự; đó là xu thế chuyển động, phát triển của sự vật, hiện tượng phê duyệt những lần phủ định biện chứng, tạo thành hình thức mang tính chu kỳ "phủ định của phủ định".

Vậy, phủ định ở đây là gì?

Ta thấy, toàn cầu luôn chuyển động và phát triển không dừng, hết sức và bất tận.

Mọi sự vật, hiện tượng sinh ra, tồn tại, phát triển rồi mất đi, được thay thế bằng sự vật hiện tượng khác; thay thế hình thái tồn tại này bằng hình thái còn đó khác của cùng một sự vật, hiện tượng trong thời kỳ vận động, tăng trưởng.

Sự thay thế đó gọi là sự phủ định.

Mọi giai đoạn chuyển động và tăng trưởng trong các ngành nghề đột nhiên, xã hội hay tư duy đều diễn ra xét duyệt những sự phủ định, trong đó có những sự phủ định chấm dứt sự phát triển, nhưng cũng có những sự phủ định tạo ra điều kiện, tiền đề cho cho quá trình tăng trưởng của sự vật, hiện tượng, được gọi là sự phủ định biện chứng.

Sự phủ định biện chứng có tính khách quan vì bởi vì của sự phủ định nằm trong trong chính bản thân sự vật, hiện tượng; nó là kết quả của quá trình quyết đấu khắc phục mâu thuẫn thế tất, bên trong sự vật, hiện tượng; tạo khả năng ra đời của cái mới thay thế cái cũ, nhờ đó tạo nên xu thế phát triển của chính bản thân nó.

cho nên, phủ định biện chứng còn được gọi là tự thân phủ định.

Sự phủ định biện chứng mang tính kế thừa, đó là kế thừa những yếu tố hợp quy tắc và loại bỏ nguyên tố trái quy tắc.

Phủ định biện chứng chẳng hề là sự phủ định sạch trơn cái cũ, mà ngược lại trên hạ tầng những hạt nhân hợp lý của cái cũ để trở nên cái mới, tạo nên tính liên tục của sự phát triển.

Qua đó cái mới hình thành và phát triển tự thân, thông qua thời kỳ lọc bỏ những mặt không chủ động, lỗi thời và giữ lại những nội dung tích cực.

Phủ định biện chứng là thiên hướng tất yếu của mối địa chỉ bên trong giữa cái cũ và cái mới, là sự tự khẳng định của các giai đoạn, vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.

Trong sự đi lại vĩnh viễn của toàn cầu vật chất, phủ định biện chứng là một công đoạn vô tận, tạo nên xu hướng vững mạnh của sự vật, hiện tượng từ chuyên môn phải chăng đến tay nghề cao hơn, diễn ra có tính chất chu kỳ theo hình thức "xoáy ốc".

Theo đó, trong chuỗi phủ định tạo nên quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng, mỗi lần phủ định biện chứng đều tạo ra những điều kiện, tiền đề cho sự vững mạnh tiếp theo của sự vật, hiện tượng đó.

Trải qua nhiều lần phủ định, tức "phủ định của phủ định" sẽ thế tất dẫn đến kết quả là sự chuyển động theo chiều hướng đi lên của sự vật, hiện tượng.

Ở đây, tính chất chu kỳ của các công đoạn tăng trưởng thường diễn ra theo hình thức "xoáy ốc", đó cũng là tính chất "phủ định của phủ định".

Theo tính chất này, mỗi chu kỳ phát triển của sự vật hiện tượng thường trải qua hai lần phủ định basic với ba hình thái tồn tại cốt yếu của nó, trong đó hình thái cuối mỗi chu kỳ lặp lại những đặc trưng cơ bản của hình thái đầu tiên chu kỳ đó nhưng trên hạ tầng cao hơn cao hơn về kỹ thuật lớn mạnh, nhờ kế thừa được những nhân tố tích cực và loại bỏ được những nguyên tố không chủ động qua hai lần phủ định biện chứng.

Trong quy tắc phủ định của phủ định, thiên hướng tăng trưởng theo đường xoáy ốc miêu tả thuộc tính biện chứng của sự tăng trưởng, đó là tính kế thừa, tính lặp lại và tính tiến lên.

Mỗi vòng mới của tuyến phố xoáy ốc nghe đâu lặp lại, nhưng với trình độ cao hơn.

Sự tiếp nối của các vòng trong con đường xoáy ốc đề đạt quá trình lớn mạnh bất tận từ phải chăng đến cao của sự vật, hiện tượng trong toàn cầu.

Trong thời kỳ phát triển của sự vật, hiện tượng, phủ định biện chứng đã đóng Vai trò là những vòng khâu của quá trình đó.

Từ nội dung quy tắc phủ định của phủ định, ta có thể đúc rút ra những ý nghĩa trong nhận thức và thực tế. Cụ thể:

+ quy tắc phủ định của phủ định là hạ tầng của nhận thức đúng đắn về xu hướng di chuyển, tăng trưởng của sự vật, hiện tượng.

quá trình đó không diễn ra theo con đường thẳng mà là tuyến phố lòng vòng, phức tạp, gồm nhiều giai đoạn, nhiều quá trình khác nhau.

bên cạnh đó, tính đa dạng và phức tạp của thời kỳ lớn mạnh chỉ là chỉ là sự biểu hiện của khuynh hướng chung, đó là xu hướng tiến lên theo quy luật.

vì vậy, cần phải nắm được đặc điểm, bản chất, các mối liên hệ của sự vật, hiện tượng để tác động tới sự tăng trưởng, thuận tiện và phù hợp với bắt buộc của hoạt động nhận thức, mô tả toàn cầu quan và nhân sinh quan cách mệnh trong mọi hoạt động và trong thực tại.

Từ đó, khẳng định niềm tin vào xu hướng tất yếu là phát triển tiến lên của cái tiến bộ, đó là biểu lộ của toàn cầu quan kỹ thuật và nhân sinh quan cách mệnh.

+ Theo nguyên tắc phủ định của phủ định, trong thế giới khách quan, cái mới tất yếu phải thành lập để thay thế cái cũ.

Trong trùng hợp, cái mới có mặt trên thị trường và vững mạnh theo quy tắc khách quan.

Trong đời sống phố hội, cái mới ra đời trên cơ sở vật chất hoạt động có mục đích, có ý thức tự giác và thông minh của con người.

bởi vậy, cần nâng cao tính hăng hái của nguyên tố chủ quan trong mọi hoạt động, có niềm tin vào sự tất thắng của cái mới, ủng hộ cái mới và chống chọi để cho cái mới chiến thắng. bởi thế, cần giải quyết tư tưởng thủ cựu, không đúng với tiến độ, giáo điều, kìm hãm sự vững mạnh của cái mới, khiến cho trái với nguyên tắc phủ định của phủ định.

+ quan điểm biện chứng về sự tăng trưởng đòi hỏi trong giai đoạn phủ định cái cũ phải theo quy luật kế thừa có phê phán; kế thừa những yếu tố hợp nguyên tắc và lọc bỏ, vượt qua, cải tạo cái bị động, trái quy luật nhằm xúc tiến sự vật, hiện tượng phát triển theo hướng tiến bộ.

Nhận xét. Trong sự lớn mạnh của đời sống phường hội và hoạt động thực tại, mọi sự vật, hiện tượng đều tăng trưởng thep các quy tắc khách quan. Mọi chủ trương, quyết sách cũng phải tuân theo các quy luật này.

giả sử tuân theo đúng các quy tắc khách quan thì đó là sự phát triển phù hợp và tiến bộ, trái lại nếu không theo quy luật khách quan sẽ dẫn không có tính khả thi và bị triệt tiêu.

Sự cách tân căn bản và toàn diện giáo dục có phải là vấn đề mang tính quy luật?

Năm 2011 có một bước chuyển mới trong giáo dục, trong khi Đại hội Đảng toàn quốc mở đầu vào mùa xuân trong đó có nói việc đổi mới basic và toàn diện giáo dục.

Tiếp bước lịch trình, năm 2013, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã tiến hành Hội nghị Trung ương lần thứ 8 với chủ điểm cải cách basic và toàn diện giáo dục.

Theo đó, hội nghị lần thứ 8 đã ban hành quyết nghị số 29 về chủ trương cách tân basic và toàn diện giáo dục.

Tính đến giờ đã được 4 năm, khi mà nghị quyết số 29 đi vào thực tại.

ngoài ra, giáo dục Việt Nam vẫn chưa có một bước chuyển đáng kể nào được gọi là theo chủ trương canh tân cơ bản và toàn diện về giáo dục.

Chính vì vậy, không thể thiếu phải xem lại chủ trương này một phương pháp khách quan và toàn diện, đặc thù là coi xét liệu có tuân theo đúng với các quy luật khách quan hay không.

sớm nhất, đề cập về tầm quan trọng phải cách tân basic và toàn diện giáo dục.

Theo Báo cáo Đề án "cách tân basic, toàn diện giáo dục và giải thích, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, tiên tiến hóa trong điều kiện kinh tế thị phần định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" của Ban cán sự đảng Chính phủ trình Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) thì tầm quan trọng phải cách tân cơ bản và toàn diện giáo dục dựa trên các lí do sau đây:

1. Qua ba lần cách tân và quá trình canh tân những năm gần đây, giáo dục Việt Nam (bao gồm cả đào tạo, sau đây gọi chung là giáo dục) đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần không được lãng quên vào chiến thắng của công cuộc xây dựng và bảo vệ Nhóm quốc.

tuy nhiên, giáo dục đã biểu hiện những yếu kém, bất cập, trong đó có những trở ngại gây phản ứng xã hội kéo dài. Nhiều chính sách, cơ chế, biện pháp về giáo dục có hiệu quả trong công đoạn vừa qua, nay đã không còn phù hợp, cần được điều chỉnh.

2. đề xuất vun đắp và che trở tổ quốc trong tình hình mới, đặc biệt là buộc phải chuyển đổi mô hình phát triển theo chiều sâu và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng có bảo hành lâu dài, hiệu quả, có sức cạnh tranh cao đòi hỏi giáo dục phải đáp ứng nhu cầu học tập phổ biến của người dân, mau chóng góp phần tạo ra đội ngũ nhân lực có bảo hành lâu dài cao.

giả định bảo thủ căn bản và toàn diện giáo dục và huấn luyện thì nhân lực sẽ là nhân tố cản trở sự phát triển của quốc gia.

3. Nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; sự lớn mạnh nhanh chóng của kỹ thuật và công nghệ, công nghệ giáo dục và sự khó khăn quyết liệt trên nhiều ngành nghề giữa tất cả quốc gia đòi hỏi giáo dục phải cách tân.

thực chất khó khăn giữa tất cả các nước bây giờ là khó khăn về nguồn nhân lực và về kỹ thuật và khoa học. xu hướng chung của thế giới khi bước vào thế kỷ XXI là các nước tiến hành thay đổi theo hướng hiện đại mạnh mẽ hay cách tân giáo dục.

bên cạnh đó, tại Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu:

"… đến nay giáo dục và huấn luyện nước ta vẫn chưa thực sự trở nên quốc sách hàng đầu, động lực không được lãng quên nhất cho phát triển; thậm chí còn không ít tránh, yếu kém, nhất là về chất lượng giáo dục – đào tạo; công tác quản lý và cơ chế tạo nguồn lực và động lực cho lớn mạnh.

Để có thể basic trở thành một nước công nghiệp theo hướng đương đại vào năm 2020, nước ta đang đứng trước đề nghị canh tân mô hình phát triển, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao quan hệ lâu dài, hiệu quả, sức cạnh tranh dựa nhiều hơn vào yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) và kinh tế tri thức.

Sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, tiên tiến hoá trong thời đại toàn cầu hoá, tăng trưởng nhanh chóng của kỹ thuật – kỹ thuật đòi hỏi và cũng tạo điều kiện để nước ta đẩy mạnh toàn diện giáo dục và tập huấn, vững mạnh nguồn nhân lực có chất lượng, nhất là nguồn nhân lực uy tín cao.

Những kết quả, thành quả đã đạt được về quy mô, nguồn nhân công và cơ sở vật chất Thợ hiện có cũng cho phép tôi và mọi người chuyển sang giai đoạn tăng trưởng mới, cao hơn về chất. Đó chính là lý do đào tạo tại sao Đại hội XI của Đảng đề ra chủ trương phải cách tân cơ bản và toàn diện giáo dục và tập huấn".

Từ những Tiêu chuẩn trên đây, có thể nhận thấy chủ trương cải cách căn bản và toàn diện của Đảng ta là có cơ sở vật chất đúng nguyên tắc.

nhanh nhất, với định hướng chiến lược phát triển giáo dục – huấn luyện trong công đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lĩnh vực giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được những thành tựu thiết yếu, góp phần to lớn vào sự nghiệp vun đắp và bảo vệ tổ quốc.

Cụ thể là: đã vun đắp được hệ thống giáo dục và training khá hoàn chỉnh từ mầm non đến Đại học.

cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, huấn luyện được cải thiện rõ rệt và từng bước đương đại hóa. Số lượng học trò, sinh viên tăng nhanh, nhất là ở giáo dục Đại học và giáo dục nghề nghiệp.

chất lượng giáo dục và training có tiến bộ. hàng ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục tăng trưởng cả về số lượng và uy tín, với cơ cấu càng ngày càng hợp lý. Chi ngân sách cho giáo dục và tập huấn đạt mức 20% tổng chi ngân sách Nhà nước.

phường hội hóa giáo dục được đẩy mạnh; hệ thống giáo dục và huấn luyện ngoài công lập góp phần đáng kể vào tăng trưởng giáo dục và giảng giải chung của toàn thị trấn hội. công tác điều hành giáo dục và giải thích có bước chuyển biến cố định.

Cả nước đã hoàn thành tiêu chí xoá mù chữ và phổ cập giáo dục Tiểu học vào năm 2000; phổ cập giáo dục Trung học cơ sở vật chất vào năm 2010; đang tiến tới phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; củng cố và nâng cao kết quả xoá mù chữ cho người lớn.

cơ hội tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng chính sách; basic bảo đảm bình đẳng giới trong giáo dục và huấn luyện.

Những thành quả và kết quả đề cập trên, trước hết bắt nguồn từ truyền thống hiếu học của dân tộc; sự để ý, chăm lo của Đảng, Nhà nước, chiến trường Nhóm quốc và các đoàn thể nhân dân, của mỗi gia đình và toàn phố hội; sự tận tụy của lực lượng nhà giáo và cán bộ điều hành giáo dục; sự ổn định về chính trị cùng với những thành quả lớn mạnh kinh tế – xã hội của đất nước.

Như thế, với những kết quả, thành tựu đã đạt được về quy mô, nguồn nhân lực và cơ sở vật chất Thợ giáo dục hiện có thì đây chính là quy mô phát triển về mặt lượng, hiểu theo mặt lượng trong quy tắc chuyển hóa từ những sự đổi thay về lượng thành những đổi thay về chất và trái lại.

Từ đó đặt cơ sở vật chất lớn mạnh về chất là phải thay đổi tích cực căn bản và toàn diện nền giáo dục.

Thứ hai, ngoài ra có bảo đảm, hiệu quả giáo dục và giảng giải còn rẻ so với yêu cầu, nhất là giáo dục Đại học, giáo dục nghề nghiệp.

Hệ thống giáo dục và huấn luyện thiếu liên thông giữa các tay nghề và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hiện. giải thích thiếu gắn kết với nghiên cứu kỹ thuật, sản xuất, buôn bán và nhu cầu của thị phần lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng khiến việc.

phương pháp giáo dục, việc thi, rà soát và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất.

quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém. hàng ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về có bảo đảm, số lượng và cơ cấu; một phòng ban chưa theo kịp bắt buộc đổi mới và tăng trưởng giáo dục, thiếu máu nóng, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp.

đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả. Chính sách, cơ chế nguồn vốn cho giáo dục và giải thích chưa thuận tiện và phù hợp. hạ tầng Thợ còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc trưng cạnh tranh.

Với tình hình đó đã tạo ra các mặt đối lập trong mâu thuẫn. Đó là tranh chấp bên trong giữa sự giảm thiểu yếu kém của hệ thống giáo dục với quy mô phát triển mang tính chiến lược.

tranh chấp bên ngoài với sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật và khoa học, khoa học giáo dục và sự cạnh tranh quyết liệt trên nhiều ngành nghề giữa tất cả quốc gia trên toàn cầu, mà bản chất khó khăn giữa các quốc gia ngày nay là khó khăn về nguồn nhân lực và về khoa học và công nghệ.

Đó chính là hạ tầng và tiền đề để giải quyết mâu thuẫn tuân theo nguyên tắc hợp lực và quyết đấu giữa các mặt đối lập, tạo tiền đề cho nhu cầu cải cách và phát triển.

Thứ ba, cũng chính từ hai hạ tầng trên mà không thể bỏ lỡ phải thay đổi theo hướng hiện đại, phủ định cái cũ để thiết lập cái mới phát triển cao hơn về chất.

tại sao Bộ tiếp tục thay đổi tích cực kỳ thi quốc gia?

Ở đây, sự phủ định là khuynh hướng thế tất của mối liên hệ bên trong giữa cái cũ và cái mới, là sự tự khẳng định của các giai đoạn, chuyển động, vững mạnh của nền giáo dục.

bởi thế, cách tân căn bản và toàn diện giáo dục là tuân theo quy luật phủ định của phủ định trong phép biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác-Lên nin.

Vấn đề ở chỗ là trong thời kỳ thực hiện, theo quy luật, những sự thay đổi về lượng chỉ có thể dẫn tới những sự đổi thay về chất với điều kiện lượng phải được tích lũy tới giới hạn điểm nút.

bởi vậy, trong công tác thực tế cần phải khắc phục tư tưởng nôn nóng tả khuynh; mặt khác, theo tính thế tất quy tắc thì khi lượng đã tích lũy đến dừng điểm nút sẽ tất yếu có khả năng diễn ra bước dancing về chất.

bởi vậy, cũng cần giải quyết tư tưởng cổ hủ hữu khuynh trong công việc thực tại. Tả khuynh chính là hành động bất chấp nguyên tắc, chủ quan, duy ý chí, không tích lũy về lượng mà chỉ chú trọng thực hiện những bước khiêu vũ liên tục về chất.

Hữu khuynh là sự biểu đạt tư tưởng thủ cựu, trì trệ, không dám thực hiện bước dancing, dù rằng lượng đã tích lũy tới điểm nút và quan điểm tăng trưởng chỉ thuần tuý là sự tiến hóa về lượng.

Vì bước nhảy đầm là khôn xiết rộng rãi, phong phú, thành ra, thiết yếu sự áp dụng linh động các hình thức của bước dancing cho thuận tiện và phù hợp với từng điều kiện, từng lĩnh vực học và cấp học cụ thể của giáo dục.

do đó cần phải nâng cao tính hăng hái, chủ động của chủ thể giáo dục để xúc tiến công đoạn chuyển hóa từ lượng đến chất một bí quyết hiệu quả nhất.

Với những ý nghĩa trên đây, chúng tôi kỳ vọng rằng chủ trương thay đổi theo hướng hiện đại cơ bản và toàn diện của Đảng và Nhà nước sẽ đem lại hiệu quả mới hăng hái cho nền giáo dục Việt Nam và thành công tốt đẹp.

===>> Xem thêm

http://soyte.hatinh.gov.vn/soyte/portal/read/tin-tong-hop/tintuc/gia-su-lop-7-uy-tin-day-kem-tai-nha-mon-toan-ly-van-anh.html

Nguồn: Tổng hợp trên mạng

NO COMMENTS